Vườn dược liệu
A A A A

MÃ TIỀN

MÃ TIỀN

Tên gọi khác : củ chi, sleng thom, sleng touch (Campuchia), kok toung ka (Lào), vomiquier fausse angusture, mắc sèn sứ (Thổ), co bên kho (Thái).

Tên khoa học :

Strychnos nux - vomica L.

Họ : Thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae)

Bộ phận dùng

Hạt, hạt có lẫn vỏ ngoài rất cứng, nhiều lông tơ, trong thân là “nhân” gồm 2 phôi nhũ, cuống phôi nở ra có hai tử diệp rất bé gọi là “mầm”. Dùng hạt chắc khô, nhân vàng ngà, không mốc, mọt, đen nát và lép.

Mô tả cây

Hiện nay, nước ta đang khai thác ít nhất hai loài mã tiền:
+  Cây mã tiền Strychnos nux - vomica L. là một cây nhỏ, mọc thẳng đứng có vỏ xám, cây non có gai. Lá mọc đối, có lá kèm, cuống ngắn, phiến lá hình bầu dục, hai đầu hơi nhọn, gân lá hình lông chim nhưng mỗi bên gân chính có một đôi gân phụ chạy dọc theo lá và nổi ở mặt dưới.
 
Hình 1: Cây mã tiền

Hoa nhỏ, màu hồng, họp thành xim hình tán đều, lưỡng tính, tràng và đài có 5 cánh, đài hình phễu với 5 răng hình ba cạnh, tiền khai hoa hợp, trảng hình ống, hơi phình ở phía dưới, mặt trong có lông, trên đỉnh chia 5 thùy, so le so với lá đài, trong nụ tiền khai hoa van, 5 nhị đính ở họng của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn, mang bao phấn có hai ngăn. Bầu có hai lá noãn, vòi đơn, quả mọng hình cầu, to bằng quả cam, có chứa cơm màu trắng, nhiều hạt hình khuy áo, phôi thẳng đứng, xung quanh có nội nhũ sừng.
+  Các loại mã tiền hiện đang được khai thác ở miền Bắc nước ta hầu hết đều là dây leo, tên khoa học chưa được xác định chắc chắn, chỉ dựa vào hàm lượng alkloid trong hạt mà khai thác và chỉ mới biết đây là một loài Strychnos sp. Vỏ một loài dây leo này được khai thác với tên hoàng nàn. Mã tiền dây leo có đường kính thân tới 10-15cm, chiều dài thân có thể tối đa 30-40m.
+   Ngoài Strychnos nux - vomica còn có các loài mã tiền dây leo, thân gỗ khác:
  • Strychnos vanprukii Craib: Mã tiền cành vuông.
Dây leo, thân gỗ, dài 5-20m, có móc xếp từng đôi một, vỏ thân màu nâu. Cành non có 4 cạnh nhẵn. Lá hình mác, mọc đối, màu xanh bóng, có 3 gân. Cụm hoa hình chùy mọc ở kẽ lá. Hoa mẫu 5, tràng màu vàng nhạt. Qủa thịt hình cầu, có đường kính 4-5cm, khi chín có màu vàng cam, có 1- 6 hạt.
  • Strychnos axillaris Colebr. Mã tiền hoa nách
Cây nhỡ mọc thẳng đứng hoặc leo, thân gai, cành tròn, không lông. Lá có phiến nhỏ dài 2,5-8cm, tròn, hình tim hay thon ở gốc, gân gốc 5-7, đầu nhị không lông, cuống dài 1-5mm, không lông. Chùy hoa ở nách lá và ngọn cành, dài 3-7cm, hoa mẫu 4-5, đài nhỏ, tràng trắng nhỏ, cao 4-5mm. Qủa hình cầu, đường kính 1-2cm, có 1-3 hạt.
  • Strychnos cathayensis Merr. (Mã tiền Trung quốc, mã tiền Cát Hải)
Cây nhỡ, leo. Cành màu nâu có lông mịn; phiến lá thon dài 6-10cm, rộng 2-4cm, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới mờ, có ít lông hay không lông. Có 3 gân từ gốc, cuống có lông mịn. Chùy hoa ở nách lá và ở đầu cành cao 3-4cm, trục có lông, hoa mẫu 5. Qủa mọng tròn, đường kính 1,5-3cm, có 3-7 hạt.
  • Strychnos ignatii Berginus: Cây đậu gió
Dây leo, thân gỗ dài 5-20m, dựa vào cây khác bằng móc đơn ở kẽ lá. Vỏ thân màu nâu hoặc xám nhạt, có nhiều lỗ bì. Cành tròn nhẵn, lá hình trứng hoặc thuôn, dài 6-17cm, rộng 3,5-7 cm, đầu nhọn, hai mặt lá nhẵn và có 3 gân tỏa ra từ các gốc. Cụm hoa hình chùy mọc ở kẽ lá ( thường ở những lá đã rụng), cuống hoa có lông. Hoa mẫu 5, tràng màu trắng hoặc vàng nhạt. Qủa hình cầu, khi chín có màu nâu, có 4-10 hạt.
  •  Strychnos umbellata (Lour.) Merr: Mã tiền hoa tán
Cây nhỡ mọc đứng hoặc leo, thân gai, cành tròn, không lông. Lá có phiến nhỏ dài 2,5-8 cm, rộng 2-4,5cm, tròn, hình tim hay thon ở gốc, gân gốc 5-7, đầu nhị không lông, cuống dài 1-5mm, không lông. Chùy hoa ở nách lá và ngọn cành, dài 3-7cm, hoa mẫu 4-5, đài nhỏ, tràng trắng nhỏ, cao 4-5mm. Qủa hình cầu, đường kính 1-2cm, có 1-3 hạt.

Phân bổ

Phân bố
Cây mã tiền Strychnos nux - vomica có nhiều ở Ấn Độ, Sri lanka, Malaysia, Thái Lan, Bắc Australia, ở nước ta hiện nay mới thấy mọc hoang ở vùng rừng núi các tỉnh phía Nam.
Các loài mã tiền khác được phân bố ở hầu khắp các tỉnh vùng núi nước ta: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Giang, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị… Đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Kiên Giang. Riêng loài Strychnos cathayensis Mer. mới gặp ở tỉnh Quảng Ninh.
Thu hái
Thường thu hái hạt Mã tiền từ những quả chín gặp gió rơi xuống đất làm hạt tung ra hoặc hạt do chim ăn quả bị bỏ lại hạt ngay dưới gốc. Khi dùng thái mỏng, sấy lại lần nữa rồi tán nhỏ.
Chế biến
Theo Tây y:
Rửa nhanh Mã tiền bằng nước thường: đồ lên, khi thấy mềm thái mỏng, xay trong cối sắt, sấy khô, tán lại trong cối bằng sắt kín, rây số 22. Bột vàng xám, rất đắng, phải có 2,5% alkaloid toàn phần.
Theo Trung y:
Cho cát vào nồi đất, rang nóng đến 1000C, bỏ hạt mã tiền vào sao nóng tới 2000C; hạt sẽ phồng lên, nổ lép nhép, lớp lông nhung ở ngoài cháy vàng. Khi ngoài vỏ có đường tách nẻ thì lấy hạt và cát ra, sàng bỏ cát; cho hạt vào máy quay cho sạch lông nhung đã bị cháy, tán bột.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Trong y học cổ truyền chỉ sử dụng hạt Mã tiền đã được chế biến (gọi là Mã tiền chế). Có nhiều cách chế biến:
  • Ngâm hạt trong nước vo gạo một ngày đêm cho tới khi mềm, lấy ra cạo bỏ vỏ ngoài và mầm, thái mỏng, sấy khô tán nhỏ.
  • Cho hạt mã tiền vào dầu vừng đun sôi cho tới khi hạt mã tiền nổi lên thì vớt ra ngay (nếu chậm hạt bị cháy đen, mất tác dụng). Thái nhỏ sấy khô rồi dùng.
  • Ngâm hạt mã tiền trong nước thường hay nước vo gạo cho tới mềm. Lấy ra bóc vỏ và lông để riêng, nhân để riêng. Sao vỏ và lông riêng, nhân riêng, rồi tán nhỏ riêng từng thứ. Phương pháp này thường dùng chữa bệnh chó dại.
Bảo quản
Hạt mã tiền sống, thuốc độc bảng A; Hạt mã tiền đã bào chế, thuốc độc bảng B. Rất dễ sâu mọt, hút ẩm đen ruột. Do vậy, hạt cần được bảo quản nơi khô ráo để tránh mốc mọt.

Thành phần hóa học

  • Hoạt chất trong hạt Mã tiền Strychnos nux - vomica L. là alkaloid (2-5%). Trong đó gần 50% là strychnin, phần còn lại là brucin, còn khoảng 2-3% là các alkaloid phụ khác như α-colubrin, β-colubrin, vomicin, novacin, pseudostrychin
  • Ngoài alkaloid, trong hạt còn chất béo (4-5%), acid igasuric (= acid chlorogenic), acid loganic, stigmasterin, cycloarterol và một glycosid là Loganin (= Loganosid) (Loganin có nhiều trong cơm quả).
  • Trong lá có khoảng 2% và trong vỏ thân có trên 8% alkaloid nhưng chủ yếu là brucin.
  • Các loài mã tiền khác hiện đang khai thác có tỉ lệ alkaloid toàn phần cũng như Strychnin khác nhau. Hạt mã tiền dùng làm thuốc phải chứa 1,2%  strychnin







Hình 2: Một số hợp chất có trong hạt Mã tiền

Tác dụng dược lý

Tác dụng của Mã tiền là do tác dụng của strychnin:
  • Đối với thần kinh trung ương và ngoại vi: có tác dụng kích thích với liều nhỏ, và tác dụng co giật với liều cao. Strychnin có tác dụng kích thích thần kinh tương đối mạnh hơn trên tế bào vận động của hệ thần kinh trung ương, đặc biệt trên tủy sống. Nó kích thích những khả năng về trí não, làm tăng cảm giác về xúc giác, thính giác, khứu giác, vị giác và cơn đau.
  • Đối với tim và tuần hoàn: có tác dụng tăng huyết áp, do các mạch máu ngoại vi bị co nhỏ.
  • Đối với dạ dày và bộ máy tiêu hóa: tăng bài tiết dịch vị, tăng tốc độ chuyển của thức ăn sang ruột. Tuy nhiên nếu dùng luôn thì sẽ gây rối loạn tiêu hóa, rối loạn co bóp dạ dày.
Độc tính: mã tiền rất độc. Khi bị ngộ độc có hiện tượng: ngáp, nước dãi chảy nhiều, nôn mửa, sợ ánh sáng, mạch nhanh và yếu. Tứ chi cứng đờ, co giật nhẹ rồi đột nhiên có triệu chứng như uốn ván nặng với hiện tượng rút gân hàm, lồi mắt, đồng tử mở rộng, bắp thịt tứ chi và thân bị co, sự co bắp thịt gây khó thở và ngạt. Liều cao từ 60-90mg strychin có thể gây tử vong vì liệt hô hấp.

Công dụng

Trong cuộc sống

Trong đông y

Tính vị, quy kinh: vị đắng, tính hàn, có đại độc. Vào các kinh can, tỳ.
Công năng, chủ trị:
  • Công năng: Thông (kinh) lạc, giảm đau, tán kết, tiêu thũng, trừ phong     thấp và tê bại, mạnh tỳ vị, mạnh gân cốt.
  • Chủ trị: Trị các chứng viêm, sưng đau, nhọt độc, viêm họng. Phụ nữ bị viêm âm đạo dùng mã tiền tử ngâm nước khoảng 3 ngày, bóc bỏ lớp vỏ ngoài, phơi nắng phần trong cho khô rồi bỏ vào rang vàng với dầu mè, tán bột đắp lên chỗ sưng. Đau tê, bại liệt dùng với Cam thảo, Đương quy, Nhũ hương. Đau nhức cơ bắp dùng mã tiền tử với Ma hoàng, Nhũ hương, Một dược ngâm rượu đế xoa bóp chỗ sưng đau, có thể uống với liều nhỏ
Liều dùng: 
  • Mã tiền sống: Dùng dưới dạng cồn xoa bóp bên ngoài.
  • Mã tiền chế: Mã tiền dùng trong phải chế  với một số phụ liệu như nước vo gạo, dầu vừng. Dùng dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc. Ngày uống 0,1- 0,3g, dùng phối hợp với các thuốc khác, uống lúc no. Trẻ em dưới 3 tuổi không được dùng.

Kiêng kỵ: Người có bệnh di tinh, mất ngủ không dùng. Phụ nữ có thai cấm dùng. Chỉ nên dùng ngoài, nếu dùng trong thì chỉ nên dùng ngắn hạn.

Các bài thuốc đông y

Thuốc phong thấp bà Giằng chữa tê thấp, đau nhức, sưng khớp (Thanh Hóa)
  • Bột mã tiền chế 50g, bột hương phụ tử chế 13g, bột mộc hương 8g, bột địa liền 6g, bột thương truật 20g, bột quế chi 3g, tá dược vừa đủ hoàn 1000 viên. Mỗi ngày uống 4 viên, tối đa 6 đến 8 viên. Theo hướng dẫn uống khi nào thấy giật giật mới có kết quả. Một đợt uống 50 viên thì lại nghỉ.

Theo Tây y
  • Mã tiền dùng làm thuốc kích thích thần kinh, tăng phản xạ của tủy, tăng cường kiện và dinh dưỡng của cơ, dùng chữa tê liệt, tim bị dãn, cơ tim mệt, giảm cường kiện của ruột, đái dầm vì cơ tròn bọng đái yếu không khép được và yếu bộ phận sinh dục (strychnin làm tinh trùng được tống ra mạnh)
  • Cách dùng: 
-  Cồn mã tiền: Mỗi lần uống 8-10 giọt, tối đa 30 giọt.
-  Cao mã tiền: Mỗi lần uống 10-15mg, tối đa 50mg. Nitrat strychnin uống mỗi lần một nửa đến một miligam (0,0005- 0,001g), hoặc tiêm 1ml dung dịch 0,1%.

Trong y học hiện đại

Phong thấp, đau nhức gân cốt, đau nhức xương cơ không đi lại được là bệnh thường gặp và là nỗi lo của người cao tuổi. Công trình nghiên cứu tại OPC phối hợp các dược liệu: Mã tiền chế, Hy thiêm, Ngũ gia bì chân chim, Tam thất đã bào chế thành công viên phong thấp Fengshi OPC có tác dụng giảm đau, tê, chống viêm, giãn cơ, giảm giới hạn vận động khớp trên bệnh nhân thấp ngoài khớp, đau thấp nhiều cơ

 

Tiêu chuẩn

Đạt tiêu chuẩn theo Dược điển Việt Nam IV.
Mô tả
Loài Strychnos nux – vomica L.: Hạt hình đĩa dẹt, hơi dày lên ở mép, một số hạt hơi méo mó, cong không đều, đường kính 1,2 – 2,5 cm, dày 0,4 – 0,6 cm, màu xám nhạt đến vàng nhạt. Mặt hạt phủ một lớp lông tơ bóng mượt mọc ngả theo chiều từ tâm hạt tỏa ra xung quanh. Rốn hạt là một lỗ chồi nhỏ ở giữa một mặt hạt. Sống noãn hơi lồi chạy từ rốn hạt đến lỗ nõan (là một điểm nhỏ cao lên ở trên mép hạt). Hạt có nội nhũ sừng màu vàng nhạt hay hơi xám, rất cứng. Cây mầm nhỏ nằm trong khoảng giữa nội nhũ phía lỗ noãn. Hạt không mùi, vị rất đắng.

Hình 4: Hạt Mã tiền

Vi phẫu
Vỏ hạt có các tế bào biến đổi thành lông che chở đơn bào, thon dài, ngả theo chiều từ tâm hạt ra ngoài, gốc lông phình to. Lớp tế bào mô cứng dẹt, màng rất dày. Nội nhũ gồm những tế bào hình nhiều cạnh .


Hình 5: Vi phẫu hạt Mã tiền 

Trong đó:
A.     Hình dạng tổng quát hạt (Sketch)        
B+C.  Vi phẫu cắt ngang hạt (Section illustration)
1-    Lông che chở đơn bào (Non - glandular hairs)
2-    Lớp tế bào mô cứng dẹt (Decadent parenchymatous cells)
3-    Nội nhũ (Endosperm)
4-    Kẽ nứt hạt (Cleft)

Bột
Rất nhiều lông che chở đơn bào dài và mảnh, thường bị gãy thành nhiều đoạn. Mảnh gốc lông phình to, thành dày. Mảnh tế bào mô cứng có ống trao đổi rõ. Mảnh nội nhũ gồm những tế bào hình nhiều cạnh thành dày, một vài tế bào chứa dầu và hạt aleuron.

 


Hình 6: Vi phẫu bột hạt Mã tiền

Trong đó:
A-  Hình quan sát dưới kính hiển vi quang học (the light microscope)
B-  Hình quan sát dưới kính hiển vi phân cực (the polarized microscope)
1-  Lông che chở đơn bào (Non - glandular hairs)
        1-1: Lông che chở đơn bào (non - glandular hairs)
1-2: Chân lông che chở đơn bào (base of non - glandular hairs)
2-  Mảnh nội nhũ (Endosperm cells)
    2-1: Mảnh nội nhũ (Endosperm cells)
2-2: Mảnh nội nhũ chứa dầu béo và hạt aleuron (Endosperm cells containing fatty oil and aleuron grains)
    3-  Nội nhũ (Endosperm)
    4-  Chân lông hình nậm

Định tính
Thể hiện phép thử định tính của hạt Mã tiền.
Độ ẩm
Không quá 12% 
Tro toàn phần
Không quá 3,5% 
Tạp chất 
Hạt lép và đen: Không quá 3,5%.
Các tạp chất khác: Không quá 0,2%.
Định lượng
Hàm lượng Strychnin (C21H22N2O2) không được ít hơn 1,2% tính theo dược liệu khô kiệt.
 25985   16/03/2017
Sưu tầm và tổng hợp - KS. LÊ VĂN THÀNH
Mới hơn
Tin khác
Tư vấn miễn phí
1800555518