Vườn dược liệu
A A A A

SƠN THÙ DU

SƠN THÙ DU

Tên khác: Sơn thù, thù nhục, táo bì.

Tên khoa học: Cornus officinalis Sieb.et zuce.

Họ: Thuộc họ Sơn thù du Cornaceae.

BỘ PHẬN DÙNG

Cây sơn thù du cho vị thuốc gọi là sơn thù hay sơn thù du (Fructus Corni) là quả khô của cây sơn thù. Quả, thu hái lúc vỏ ngoài chuyển sang màu đỏ, nhúng vào nước sôi ít phút, lấy thịt bỏ hạt, rồi làm khô.


Hình 1: Quả sơn thù tươi, khô 

MÔ TẢ CÂY

Cây nhỏ cao chừng 4m, vỏ thân xám nâu, cành nhỏ không có lông. Lá đơn, mọc đối, có cuống ngắn, phiến lá hình trứng dài 5-7cm, rộng 3-4,5cm, đầu nhọn, đáy tròn, mép nguyên, 5-7 đôi gân phụ.

Hoa nở trước lá, mọc thành tán. Hoa nhỏ, màu vàng, 4 lá đài, 4 cành tràng, 4 nhị, bầu hạ. 

Quả hạch hình trái xoan, dài 1,2-1,5cm, đường kính 7mm, khi chín có màu đỏ tươi, nhẵn, nhưng khi khô nhăn nheo hình mạng, cuống quả dài 1,5-2cm. Hạch hình trứng.

Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 8-10

PHÂN BỔ

Phân bố

Vì sơn thù hiện còn hoàn toàn phải nhập từ Trung Quốc. Tại Trung Quốc cây này mọc hoang và được trồng ở Thiểm Tây, Hà Nam, Sơn Đông, An Huy, Triết Giang, Tứ Xuyên. Vị thuốc là quả đã loại hạt rồi phơi hay sấy khô. Dùng với tên sơn thù nhục hay du nhục và theo Trung dược chí thì vị thuốc xuất khẩu với tên táo bì. Tại nước ta, một số người dùng thịt quả táo hay táo chua thay cho vị sơn thù phải chăng vì tên gọi này? Thực tế ta thấy đây là quả của hai cây xa hẳn nhau về thực vật. Cần chú ý phân biệt và cố đặt vấn đề di thực cây sơn thù. 

Thu hoạch, chế biến

Tại những nơi có sơn thù mọc ở Trung Quốc, vào các tháng 10-11 người ta thu hoạch lấy quả, cho vào giá tre hong cho khô rồi bóc vỏ hạt, rồi tiếp tục sấy cho khô hẳn. Loại này tốt hơn. Vì có nơi hái quả về đem đồ cho hơi chín hay cho vào nước sôi trong 10 phút rồi lấy ra bóc vỏ hạt. Loại này thịt mỏng và được xem như chất lượng kém hơn loại trên. Vị thuốc dai, khó xé, vị chua, nhưng hơi đắng và chát. Trên thị trường người ta cho những quả sạch hết hạt, thịt dày, màu hồng, không bị cháy đen, vị chua là tốt.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

  • Theo kết quả nghiên cứu của hệ dược Viện y học Bắc Kinh, 1958 thì trong sơn thù du có 13% saponoside, phản ứng tanin. Theo một tài liệu khác thì trong sơn thù du có các axit hữu cơ (axit galic, axit malic, axit tactric), các glucoside, tannin,  và một chất có tinh thể có độ chảy 2450C, phản ứng axit, ngoài ra còn chứa một glucoside gọi là cornin.
  • Ngoài ra còn có axit ursolic,axit tartric, axit malic, axit gallic và ước chừng 13% saponin (Trung dược chí, 11,1961,7).
  • Trong quả có các glucoside bao gồm cornuside, morroniside C17H26O11, metylmorroniside C18H28­O11, sweroside C16H22O9, loganin C16H26O10­ (Dược học tạp chí, 1973,93,30).
  • Lá chứa secologanin C17H24O10 (Jensen S.R . et.al Phytochemistry, 1973,64,2064). Trong lá tươi phát hiện thấy vitamin E và C.

 

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

Theo Y học cổ truyền:

Sơn thù du có tác dụng bổ ích can thận thu liễm cố sáp. Chủ trị các chứng: Can thận hư tổn, huyễn vựng, dương nuy, hoạt tinh di tinh, hư hãn ( mồ hôi trộm), băng lậu.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Danh y biệt lục: " Trị nhĩ lung ( điếc tai), diệnu sang ( lở ở mặt), ra mồ hôi, thuốc có tác dụng ôn trung, hạ khí cường âm ( làm mạnh sinh lý sinh dục), ích tinh, làm khỏe ngũ tạng ( yên ngũ tạng), thông cửu khiếu, làm bớt chứng tiểu nhiều, minh mục, cường lực ( làm sáng mắt, tăng sức).
  •  Sách Lôi công bào chế luận: " tráng nguyên khí, bí tinh".
  • Sách Dược tính bản thảo: " chỉ nguyệt thủy bất định ( trị rối loạn kinh nguyệt), bổ thận khí, hưng dương đạo ( trị liệt dương) thêm tinh tủy, liệu nhĩ minh ( trị tai ù). trị người già tiểu nhiều".

Nghiên cứu dược lý hiện đại:

Theo báo cáo của D.V. Lebedev thì rễ, thân và hoa sơn thù du có tác dụng kháng sinh, nhất là đối với với nhóm vi trùng thương hàn và lỵ. Theo Lưu Thọ Sơn (Trung dược nghiên cứu văn hiến trích yếu, 1963, 56) sơn thù du có tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp.

Gan H. Z và cộng sự (Science, 1949, 110, 11) còn thấy dịch chiết nước có tác dụng ức chế đối với vi trùng Staphyloccocus aureus.

CÔNG DỤNG

Trong đông y

  • Tính vị, quy kinh: Theo tài liệu cổ, sơn thù du có vị chua, sáp, tính hơi ôn, vào hai kinh can và thận. 
  • Công năng, chủ trị: Có tác dụng ôn bổ can thận, sáp tính, chỉ hàãn (làm cho tíinh khí bền, cầm không ra mồ hôi). Thường dùng chữa di tinh, tiểu tiện ra tinh dịch, tiểu tiện nhiều lần, kinh nguyệt không đều, không ra, mồ hôi trộm. Hiện nay thường người ta vẫn dùng sơn thù du theo những kinh nghiệm cổ trong những đơn thuốc gồm nhiều vị như bài thuốc lục vị hay lục vị địa hoàng hoàn để chữa những người tính khí không kiên, hay đi tiểu, tai ù điếc do tuổi già hay do thận kém, mắt vàng do can hư. Ngoài ra theo nghiên cứu mới, người ta còn dùng vỏ cây sơn thù du chữa sốt rét, vị sơn thù du làm thuốc thu liễm, thuốc bổ. 
  • Liều dùng: Mỗi ngày dùng 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc ngâm rượu dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác.
  • Chú ý: Dùng thận trọng khi tiểu khó, ít. Người hỏa thịnh và có bệnh thấp nhiệt không nên dùng.

Trong cuộc sống

  • Chữa thận hư, tai ù: Sơn thù du, thạch xương bồ, địa hoàng, cam cúc hoa, hoàng bá, ngũ vị tử, các vị đều nhau 6g sắc uống hàng ngày hay ngâm rượu uống. Uống trong thời gian 15 hôm lại nghỉ 10 ngày rồi uống tiếp 3 đến 5 lần.
  • ​Chữa đau xương óc: Theo quan niệm trong Đông y, óc là bể chứa tủy có đầy thì mới khỏi đau: Sơn thù du, sữa người, sa uyển tật lê, thục địa hoàng, nhân sâm, mạch môn, ngưu tất, cam cúc hoa, các vị bằng nhau, mỗi vị 4g, sắc uống hàng ngày. Uống luôn trong 20 ngày.
  • Lục vị địa hoàng hoàn: chữa đau đầu, chóng mặt, cổ khô đau, miệng lưỡi lở loét, tai ù, răng lung lay, lưng đau gối mỏi, di tinh, mộng tinh, mồ hôi trộm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, trẻ con gầy yếu.
    • Bài thuốc: Thục địa 320g (8 lạng), sơn thù du, hoài sơn mỗi vị 180g (4 lạng), mẫu đơn bì, phục linh, trạch tả mỗi vị 120g (3 lạng). Năm vị sau sấy khô, tán nhỏ, giã thục địa cho thật mềm nhũn, trộn đều, thêm mật ong viên thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 20-30 viên (8-12 gam), chia 2 lần uống trong 15 phút trước khi ăn cơm.

Trong y học hiện đại

Lục vị hoàn (Bổ thận âm) là bài thuốc có từ lâu đời, đã được Danh y Hải Thượng Lãn Ông vận dụng chữa được các bệnh liên quan đến thận hư. Dựa trên bài thuốc quý , Công ty cổ phần dược phẩm OPC phát triển nên 2 chế phẩm mang tên Hoàn bát vị Bổ thận dương, Hoàn lục vị Bổ thận âm.

Với  8 vị thuốc ( Bát vị) Đông Y là thành phần chính : Hoài sơn, Sơn thù, Mẫu Đơn bì, Thục địa, Trạch tả, Phục linh,  thêm 2 vị Quế  và Phụ tử để ôn ấm cơ thể. Hoàn bát vị Bổ thận dương dùng cho người thận yếu, váng đầu, ù tai, đau lưng mỏi gối, nửa người dưới thường lạnh, hay đi tiểu đêm, mồ hôi trộm. Hỗ trợ trong việc ngăn ngừa các biến chứng của bệnh tiểu đường.

Hoàn lục vị Bổ thận âm gồm 6 vị thuốc: Hoài sơn, Sơn thù, Mẫu Đơn bì, Thục địa, Trạch tả, Phục linh. Dùng cho người tinh huyết suy kém, thắt lưng đầu gối mỏi yếu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, nước tiểu vàng, da hấp nóng, mồ hôi trộm, di tinh.


Hoàn Bổ thận âm, Bổ thận dương

 

TIÊU CHUẨN

Đạt tiêu chuẩn theo Dược điển Việt Nam IV.

Mô tả

Quả bị vỡ, nhăn nheo do bị tách bỏ hạt. Quả hình trứng, dài 1-1,5 cm, rộng 0,5-1 cm. Mặt ngoài màu đỏ tía đến tím đen, nhăn nheo, sáng bóng. Đỉnh quả có vết hình tròn của đài bền, đáy quả có vết của cuống quả. Chất mềm, mùi nhẹ, vị chua, đắng nhẹ.


Hình 3: Quả sơn thù 

Vi phẫu
 


Hình 4: Vi phẫu quả Sơn thù 
 

Trong đó:

A- Hình dạng tổng quát (Sketch)
B- Vi phẫu cắt ngang (Section illustration)
C- Các bó mạch, sợi, cụm tinh thể canxi oxalat rải rác trong nhu mô
(Vascular bundles, fibres and clusters of calcium oxalate scattered in parenchyma)
D- Lớp biểu bì vỏ quả ngoài (Exocarp covered by cuticle)

1.Vỏ quả ngoài (Exocarp)
2.Vỏ quả trong (Mesocarp)
3.Bó mạch (Vascular bundle)
4.Khe rỗng (Hollow cavity)
5.Khối màu (Pigment masses)
6.Sợi (Fibre)
7.Tinh thể canxi oxalat (Cluster of calcium oxalate)
8.Biểu bì (Cuticle)

Bột

Màu nâu đỏ. Tế bào biểu bì vỏ quả có hình đa giác hoặc hình chữ nhật, đường kính 16 - 30 µm, thành tế bào ở mặt ngoài biểu bì dày, sần sùi, cutin hoá. Khoang chứa sắc tố màu vàng cam nhạt. Tế bào vỏ quả giữa màu nâu vàng cam, phần nhiều bị nhăn. Cụm tinh thể calci oxalat có đường kính 12 - 32 µm ít thấy. Tế bào đá hình vuông, hình trứng, hình chữ nhật, các lỗ rõ và có một khoang lớn. Nhiều hạt tinh bột hình trứng, đôi khi có rốn phân nhánh và vân mờ. Mảnh mạch điểm, mạch vạch, mạch vòng.


Hình 5: Vi phẫu bột quả Sơn thù

Trong đó:

A-  Hình quan sát dưới kính hiển vi quang học (the light microscope)
B-  Hình quan sát dưới kính hiển vi phân cực (the polarized microscope)

1- Tế bào biểu bì vỏ quả (1a-1 hình bề mặt, 1a-2 hình mặt bên)
2- Tế bào vỏ quả giữa
3- Hạt tinh bột (Inulin masses)
4- Cụm tinh thể Canxi oxalat (Cluster of calcium oxalate)
5- Tế bào đá (Stone cells)
6- Sợi (Fibre)
7- Mạch xoắn (Spiral vessels)
 

Định tính

Thể hiện phép thử định tính của quả Sơn thù

Độ ẩm

Không quá 12,0 % 

Tạp chất

Hạt và cuống quả còn sót lại: Không quá 3 %.
Tạp chất khác: Không quá 0,5 %.

Tro toàn phần 

Không quá 6,0 % 

Tro không tan trong acid

Không quá 0,5 % 

Chất chiết được trong dược liệu

Không ít hơn 50,0 %.

 

 24603   29/12/2017
Sưu tầm và tổng hợp - Ks. Lê Văn Thành
Mới hơn
Tin khác
Tư vấn miễn phí
1800555518